Lịch Sử

Albert Einstein – Về cuộc đời, sự nghiệp và di sản vĩ đại của nhân loại

Wikicabinet lịch sử  kính chào quý độc giả ở kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu các chủ đề về lịch sử:

Cuộc đời của Mahatma Gandhi và phong trào đấu tranh bất bạo động

Kỳ này Wikicabinet lịch sử  xin giới thiệu đến độc giả một chủ đề Albert Einstein – Về cuộc đời, sự nghiệp và di sản vĩ đại của nhân loại. Mời quý độc giả đón theo dõi chủ đề này cùng Wikicabinet lịch sử  nhé!

Albert Einstein được Đại Văn Hào Bernard Shaw ngợi ca là “VĨ NHÂN THỨ TÁM” của Thế Giới Khoa Học, sau Pythagoras, Aristotle, Ptolemy, Copernicus, Galileo, Kepler và Newton với những đóng góp vĩ đại trong khoa học với Thuyết tương đối lừng danh, hiệu ứng quang điện (Đạt giải Nobel Vật lý 1921), các công trình nghiên cứu thiên văn học, từ sóng hấp dẫn đến từ trường.

Tóm tắt nhanh tiểu sử về Albert Einstein

  • Tên đầy đủ: Albert Einstein
  • Dân tộc: Do Thái
  • Ngày sinh: 14/03/1879
  • Nơi sinh: Ulm, Wurmern, Đức
  • Ngày mất: 18/04/1955
  • Nơi an táng: Princeton, New Jersey
  • Nguyên nhân qua đời
  • Trường học: Eidgenössische Polytechnische Schule (Trường bách khoa liên bang Thụy Sĩ)
  • Nghề nghiệp: Nhà vật lý, nhà khoa học
  • Vợ: Mileva Marić-Einstein
  • Con cái: Lieserl Einstein, Hans Albert Einstein, Eduard Einstein
  • Cha: Hermann Einstein – Kỹ sư điện
  • Mẹ: Pauline Koch

Những điều bạn chưa biết về Albert Einstein?

Albert Einstein đã từng được đề bạt trở thành tổng thống Israel, nhưng ông đã một mực khước từ. Bởi vì khi đó, ông đã đến tuổi 73, thậm chí còn không phải là công dân chính thức của Israel. Ông cho rằng tuổi tác, sự thiếu kinh nghiệm và kỹ năng lãnh đạo một đất nước là lí do ông không phải là một lựa chọn đúng đắn. Nguyên văn câu trả lời của Eistein khi đáp lại lời đề nghị: “Tôi cảm thấy vô cùng xúc động trước lời mời từ Israel, đồng thời cũng rất buồn và tự cảm thấy xấu hổ khi không thể nhận  nó.”

Vào những năm cuối đời, những cơn đau do phình động mạch chủ khiến ông thật khổ sở, nhưng ông nhất quyết không đồng ý phẫu thuật. Trước khi qua đời, ông nói rằng: “Tôi muốn đi khi tôi muốn. Thật vô vị khi kéo dài cuộc sống một cách giả tạo. Tôi đã hoàn thành trách nhiệm của mình, đã đến lúc tôi phải đi. Tôi sẽ ra đi một cách thanh thản.”

Einstein là một người yêu chuộng hòa bình, bởi vậy ông gia nhập NAACP (Hiệp hội Quốc gia vì Sự tiến bộ của Người da màu nhằm thúc đẩy công lý cho người Mỹ gốc Phi) như một lẽ đương nhiên. Trong thời gian hoạt động tại đây, ông đã đưa ra mối tương quan giữa người da đen ở Mỹ và người Do Thái ở Đức. Ông tin rằng phân biệt chủng tộc là một căn bệnh cần phải loại trừ.

Thuở thiếu thời của Albert Einstein

Albert Einstein sinh vào ngày 14/03/1879 tại Ulm, miền Wurmern, nước Đức trong một gia đình người Do Thái. Cha của ông là nhân viên bán hàng Hermann Einstein với tinh thần luôn lạc quan, vui vẻ mặc dù cuộc sống đầy khó khăn, vất vả. Cha ông có một em trai là kỹ sư điện giàu kinh nghiệm, hai người cùng nhau thành lập công ty chuyên sản xuất thiết bị điện lấy tên là Elektrotechnische Fabrik J. Einstein & Cie tại Munich. Ông Hermann phụ trách về mặt giao dịch buôn bán, còn người chú quản lý phần kỹ thuật điện

Mẹ của Einstein, Pauline Koch, là một phụ nữ đảm đang, chăm chỉ, hết mực yêu thương Einstein và em gái Maja kém ông hai tuổi.

Từ lúc mới sinh ra, Albert Einstein bị coi là một đứa trẻ không bình thường, đến lúc 3 – 4 tuổi mà vẫn chỉ có thể bập bẹ vài câu khiến cha mẹ ông vô cùng phiền lòng. Mãi đến khi lên chín, ông mới có thể nói rõ ràng và trôi chảy được, nhưng ông vẫn là một cậu bé nhút nhát, ít nói, thường xa lánh đám trẻ cùng lứa tuổi và thích chơi một mình. Ông không hề để tâm tới đoàn lính chì như những đứa trẻ khác mà lại hứng thú với chiếc la bàn cha tặng. Ông thích hát thành ca và bắt đầu chơi violin từ năm sáu tuổi. Đó có thể coi là một trong các di sản tuyệt vời của ông. Khi bước sang tuổi mười hai, ông đã khám phá những điều thú vị của hình học (nghiên cứu về các điểm, đường và bề mặt) và chứng minh các giả thiết bằng các luận cứ rõ ràng và khoa học. Ngoài ra, Einstein còn đọc bộ sách “Khoa Học Phổ Thông” của Aaron Bernstein. Nhờ cuốn này mà Einstein hiểu biết thêm về Sinh Vật, Thực Vật, Vũ Trụ, Thời Tiết, Động Đất, Núi Lửa cùng nhiều hiện tượng thiên nhiên khác.

Con đường học vấn của Albert Einstein

Albert Einstein tốt nghiệp Trung học vào năm mười sáu tuổi. Kỳ lạ thay, ông không thích đi học và luôn trốn tiết ngay khi có thể, bởi vậy, ông đã bị giáo viên chủ nhiệm đuổi ra khỏi lớp vì lo sợ thói xấu của ông ảnh hưởng tới các bạn cùng lớp. Einstein đã cố gắng thi tuyển vào Đại học Công nghệ Liên bang (FIT) tại Zurich, Thụy Sĩ, nhưng thành tích của ông về các môn học ngoài toán học quá kémkhiến ông trượt kỳ thi tuyển sinh quan trọng đó. Theo lời khuyên của hiệu trưởng, ông đã nỗ lực để đạt được bằng tốt nghiệp tại Trường Cantonal ở Aarau, Thụy Sĩ và vào năm 1896, và nhờ đó ông đã được nhận thẳng vào FIT. Ở đó, ông đã nhận ra thay vì nghiền ngẫm toán học, hóa ra vật lý chính là niềm đam mê trong toàn bộ cuộc đời còn lại của mình.

Einstein đã tốt nghiệp FIT năm 1900, nhưng do sự phản đối của một số vị giáo sư trong trường vì không tham gia các lớp học thường xuyên, ông đã không thể tìm được vị trí giảng dạy tại đại học. Năm 1902, ông chấp nhận làm trợ lý kỹ thuật tại văn phòng Bằng sáng chế ở Bern, Thụy Sĩ. Khi làm việc tại đây, Einstein đã có thời gian để khám phá thêm những ý tưởng đã có trong thời gian nghiên cứu tại Đại học Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ và do đó củng cố các định lý của ông về nguyên lý tương đối.

Cuộc sống hôn nhân

Einstein kết hôn với Mileva Maric vào ngày 6 tháng 1 năm 1903. Khi đang đi học ở Zurich, Einstein đã gặp Maric, một sinh viên vật lý người Serbia. Einstein đã sớm phát triển tình cảm với Maric, nhưng ông lại gặp sự phản đối mạnh mẽ từ bố mẹ do nền tảng dân tộc khác biệt.

Tuy nhiên, vượt qua mọi sự ngăn cấm Einstein vẫn duy trì mối quan hệ này cho đến khi cha ông qua dời vào năm 1902, và hai người kết hôn ngay sau đó.

Cùng năm đó, cô con gái tên là Lieserl ra đời, sau này có thể cô bé được người thân của Maric nuôi dưỡng hoặc trở thành con nuôi. Đến cuối cùng, số phận của cô vẫn là một bí ẩn. Ngoài ra, vợ chồng Einsteincòn có hai người con trai, Hans Albert Einstein thừa hưởng trí tuệ thiên tài của cha và đã trở thành một kỹ sư thủy lực nổi tiếng; và Eduard Einstein kém may mắn hơn khi được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt lúc còn trẻ.

Cuộc hôn nhân của Einstein kéo dài không lâu bởi sự xuất hiện của người thứ ba tên là Elsa Löwenthal. Hai người ly hôn vào năm 1919 và Maric được quyền nuôi dưỡng các con. Einstein đã chuyển số tiền thưởng từ giải thưởng Nobel cho Maric để chu cấp cho các con.

Sự nghiệp lẫy lừng của Albert Einstein

Sự nghiệp ở Đức

Năm 1905, được coi là năm kỳ diệu đối với Einstein với bốn bài báo khoa học được xuất bản trên tờ Annalen der Physik , một trong những tạp chí vật lý nổi tiếng nhất thời đại. Einstein hoàn thành bài báo “Phương pháp xác định mới về độ lớn của phân tử”, ông trích phần “Nghiên cứu sự khuếch tán và nội ma sát của các chất trung tính trong dung dịch loãng để xác định độ lớn thực tế của nguyên tử” gửi cho Đại học công nghệ liên bang Zurich. Trong bốn bài báo khoa học thì bài báo này mỏng hơn cả. Bài báo thứ hai bàn về “Thuyết quang lượng tử”. Bài báo thứ ba nghiên cứu về “Chuyển động Brown”. Bài báo thứ tư là “Bàn về điện động lực học của các vật thể động”.

Bắt đầu từ giải thưởng cao quý Nobel ông nhận được vào năm 1921 về Vật lý giải thích về hiệu ứng quang điện, sự nghiệp của ông mới thực sự thăng hoa. Tuy nhiên, trong tâm trí ông lúc này luôn đau đáu về thuyết tương đối, bởi vậy trong bài phát biểu chủ quan và cố chấp của mình, ông đã chọn nói về thuyết tương đối thay vì giải thích về hiệu ứng quang điện. Trên thực tế, giải thưởng Nobel của ông được trao muộn một năm so với công bố.

Trong quá trình nghiên cứu của mình, Einstein luôn giữ vững niềm tin rằng vũ trụ là một thực thể tĩnh hay cố định hoặc được gọi là hằng số vũ trụ, mặc dù chính những nhận định này đã mâu thuẫn với những lý thuyết ông đưa ra sau đó và khẳng định rằng vũ trụ có thể ở trạng thái chuyển động.

Cùng thời với ông, nhà thiên văn học Edwin Hubble đã suy luận rằng chúng ta thực sự sống trong vũ trụ đang mở rộng, luôn luôn vận động một cách tương đối. Vào năm 1931, hai nhà khoa học đã gặp nhau tại Đài thiên văn Núi Wilson gần Los Angeles, đây chính là khởi nguồn của các học thuyết nổi tiếng sau này.

Sau thành công với giải thưởng Nobel, Einstein nhanh chóng trở nên nổi tiếng và các trường đại học sớm bắt đầu mời ông về nghiên cứu và giảng dạy. Năm 1909, sau khi làm giảng viên tại Đại học Bern, Einstein được phong hàm phó giáo sư cho Đại học Zurich. Hai năm sau, ông được bổ nhiệm làm giáo sư chính thức tại Đại học Đức ở Prague, Tiệp Khắc. Trong vòng một năm rưỡi nữa, Einstein đã trở thành giáo sư chính thức tại FIT. Cuối cùng, vào năm 1913, các nhà khoa học nổi tiếng Max Planck (1858, 191919) và Walther Nernst (1864, 1919) đã tới Zurich để thuyết phục Einstein chấp thuận một dự án nghiên cứu sinh lợi (có lợi nhuận) tại Đại học Berlin ở Đức, và giới thiệu một vị giáo sư trở thành thành viên chính thức trong Viện Hàn lâm Khoa học Phổ.

Năm 1920 Einstein được bổ nhiệm làm giáo sư thỉnh giảng danh dự trọn đời tại Đại học Leiden ở Hà Lan. Năm 1921 và 1922 Einstein, cùng với Chaim Weizmann (1874 – 1952), được bổ nhiệm trở thành tổng thống tương lai của nhà nước Israel, đã đi khắp thế giới để vận động sự ủng hộ cho sự nghiệp chính trị của Zionism (một nhà nước Do Thái độc lập). Ở Đức, nơi lòng căm thù của người Do Thái ngày càng tăng, các cuộc tấn công vào Einstein bắt đầu nổ ra. Philipp Lenard và Johannes Stark, cả hai nhà vật lý đạt giải Nobel, bắt đầu coi thuyết tương đối của Einstein là “vật lý Do Thái”. Những kiểu tấn công này gia tăng cho đến khi Einstein từ chức khỏi Học viện Khoa học Phổ năm 1933.

Sự nghiệp ở Mỹ

Trong một dịp tình cờ, Einstein đã đến thăm Viện Công nghệ California, và trong chuyến đi cuối cùng tới Hoa Kỳ, ông đã được mời vào một vị trí trong Viện Nghiên cứu Tiên tiến mới thành lập ở Princeton, Massachusetts. Ông đến đó vào năm 1933.

Einstein đóng một vai trò quan trọng (1939) trong việc chế tạo thành công bom nguyên tử qua bức thư nổi tiếng gửi cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt (1882 – 1945). Ông nói rằng người Đức đã có những tiến bộ khoa học và có thể Adolf Hitler (1889 – 1945, nhà lãnh đạo Đức có các hành động dẫn đến Thế chiến II [1939 – 1945]), có thể trở thành người đầu tiên sở hữu vũ khí nguyên tử. Điều này khiến Hòa Kỳ dốc toàn bộ nhân lực lẫn vật lực để chế tạo một quả bom nguyên tử. Einstein đã vô cùng sốc và buồn bã khi phương trình nổi tiếng E = mc 2 của ông cuối cùng đã được chứng minh theo cách tuyệt vời và đáng sợ nhất bằng cách sử dụng bom nguyên tử để hủy diệt thành phố Hiroshima, Nhật Bản vào năm 1945. Điều đó đã trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng trong suốt cuộc đời ông sau này.

Vào ngày 18 tháng 4 năm 1955, Einstein qua đời tại Princeton bởi một cơn đau phình động mạch chủ.

Di sản của Albert Einstein

Di sản của Einstein về vật lý học
  1. Thuyết tương đối hẹp               

Năm 1905 Einstein phát biểu nguyên lý tương đối về sự bình đẳng của các hệ qui chiếu quán tính với hai tiên đề:

Mọi hiện tượng vật lý (cơ học, nhiệt động lực học, điện từ học…) đều xảy ra như nhau trong các hệ qui chiếu quán tính.

Tiên đề này chỉ ra rằng các phương trình mô tả các hiện tượng tự nhiên đều có cùng dạng như nhau trong các hệ qui chiếu quán tính. Nó cũng phủ định sự tồn tại của một hệ qui chiếu quán tính đặc biệt, như một hệ qui chiếu đứng yên thật sự. Nói cách khác mọi hệ qui chiếu quán tính là hoàn toàn tương đương nhau. Từ tiên đề này các nhà khoa học khẳng định không thể tồn tại một môi trường ête truyền sóng điện từ (ánh sáng) với một vận tốc khác biệt các hệ qui chiếu khác.

Tốc độ ánh sáng trong chân không là một đại lượng không đổi trong tất cả các hệ qui chiếu quán tính.

Giả thuyết này giải thích cho kết quả của thí nghiệm Michelson-Morley và thí nghiệm Sitter vì vận tốc truyền ánh sáng là như nhau theo mọi phương nên không thể sử dụng công thức cộng vận tốc Galileo cho ánh sáng.

Thực tế giả thuyết này có thể suy trực tiếp từ tiên đề đầu tiên. Mọi phương trình vật lý không thay đổi khi đi từ hệ quy chiếu quán tính này sang hệ quy chiếu quán tính khác, nghĩa là các phương trình Maxwell cũng bất biến, và một kết quả của nó là tiên đoán về tốc độ ánh sáng cũng phải bất biến. Do đó giả thuyết này không thể là tiên đề, chỉ là hệ quả của tiên đề tổng quát đầu tiên, nếu coi lý thuyết điện từ Maxwell là đúng.

2. Thuyết tương đối rộng

Thuyết tương đối rộng hay Thuyết tương đối tổng quát là một lý thuyết hình học về hấp dẫn được Albert Einstein công bố năm 1915. Hiện nay nó là lý thuyết thành công nhất miêu tả về hấp dẫn của ngành vật lý học hiện đại.

Lý thuyết tương đối rộng, ở dạng thuần túy, mô tả không thời gian như một đa tạp Lorentz 4 chiều, bị làm cong bởi sự có mặt của khối lượng,năng lượng, và xung lượng (tenxơ ứng suất năng lượng) nằm trong nó. Mối liên hệ giữa tenxơ ứng suất năng lượng và độ cong của không thời gian được biểu thị qua phương trình trường Einstein.

Hiệu ứng quang điện : Công trình của Einstein vào năm 1905 đã đề xuất rằng ánh sáng nên được coi là một dòng các hạt (photon) thay vì chỉ là một sóng đơn lẻ. Công trình của ông đã giúp giải mã kết quả tò mò mà các nhà khoa học trước đây không thể giải thích.

Lý thuyết trường thống nhất : Einstein đã dành nhiều năm sau đó để cố gắng hợp nhất các lĩnh vực điện từ và trọng lực. Ông đã không thành công, nhưng có thể đã đi trước thời đại. Các nhà vật lý khác vẫn đang nghiên cứu vấn đề này.

Di sản của Einstein về thiên văn học

Sóng hấp dẫn : Năm 2016, Đài quan sát sóng hấp dẫn giao thoa kế tia laser (LIGO) đã phát hiện các gợn sóng không gian – hay còn gọi là sóng hấp dẫn – xảy ra sau khi các lỗ đen va chạm cách Trái đất khoảng 1,4 tỷ năm ánh sáng. LIGO cũng đã thực hiện một phát hiện ban đầu về sóng hấp dẫn vào năm 2015, một thế kỷ sau khi Einstein dự đoán những gợn sóng này tồn tại. Sóng là một khía cạnh của thuyết tương đối rộng của Einstein.

Quỹ đạo của sao Thủy : Sao Thủy là một hành tinh nhỏ quay gần một vật thể rất lớn so với kích thước của nó – mặt trời. Quỹ đạo của nó không thể hiểu được cho đến khi thuyết tương đối rộng cho thấy độ cong của không-thời gian đang ảnh hưởng đến chuyển động của Sao Thủy và thay đổi quỹ đạo của nó. Có một cơ hội nhỏ rằng trong hàng tỷ năm, Sao Thủy có thể bị đẩy ra khỏi hệ mặt trời của chúng ta do những thay đổi này (với khả năng nhỏ hơn nữa là nó có thể va chạm với Trái đất).

Thấu kính hấp dẫn : Đây là hiện tượng mà một vật thể lớn (như cụm thiên hà hoặc lỗ đen) bẻ cong ánh sáng xung quanh nó. Các nhà thiên văn học nhìn vào khu vực đó qua kính viễn vọng sau đó có thể nhìn thấy các vật thể ngay phía sau vật thể lớn, do ánh sáng bị bẻ cong. Một ví dụ nổi tiếng về điều này là Thánh giá của Einstein, một quasar trong chòm sao Pegasus : Một thiên hà cách xa khoảng 400 triệu năm ánh sáng bẻ cong ánh sáng của quasar để nó xuất hiện bốn lần quanh thiên hà.

Lỗ đen :Vào tháng 4 năm 2019, kính viễn vọng Event Horizon đã cho thấy những hình ảnh đầu tiên về lỗ đen . Các bức ảnh một lần nữa khẳng định một số khía cạnh của thuyết tương đối rộng, bao gồm không chỉ các lỗ đen tồn tại mà còn có một chân trời sự kiện hình tròn – một điểm mà không gì có thể thoát ra, thậm chí không có ánh sáng.

Trong kỳ tiếp theo, Wikicabinet lịch sử  trân trọng mời độc giả đón đọc chủ đề Lãnh tụ Hồ Chí Minh – Vị cha già dân tộc Việt Nam.

Nếu có những thắc mắc hay muốn tìm hiểu về bất kỳ chủ đề nào, hãy liên hệ với Wikicabinet lịch sử  bằng cách bình luận ở phía dưới nhé.

admin
the authoradmin

Leave a Reply