Bệnh Tật

Mối liên hệ giữa bảng tổng kết năng lượng dương và bệnh béo phì

Wikicabinet sức khỏe kính chào quý độc giả ở kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu các chủ đề về:

Những vấn đề về chứng béo phì

Kỳ này Wikicabinet sức khỏe xin giới thiệu đến độc giả một chủ đề thú vị về Mối liên hệ giữa bảng tổng kết năng lượng dương và bệnh béo phì. Mời quý độc giả đón theo dõi chủ đề này cùng Wikicabinet sức khỏe nhé.

Chứng béo phì hình thành khi bảng tổng kết năng lượng là dương, nghĩa là khi đứa trẻ ăn và uống với lượng calo nhiều hơn số lượng phải tiêu hao cho các nhu cầu cơ bản, cho việc đốt cháy thông thường để tạo ra thân nhiệt, cho hoạt động thể chất và cho nhu cầu phát triển. Năng lượng dư thừa sẽ được dự trữ trong các mô chất béo. Đó là cách bệnh béo phì hình thành.

Trong bài viết dưới đây, chúng tôi đưa ra những nguyên nhân khiến bảng tổng kết năng lượng không còn ở trạng thái cân bằng nữa. Đối với tình trạng béo phí, bảng tổng kết năng lượng này luôn dương.

Bảng tổng kết năng lượng là gì?

Đối với một cơ thể phát triển bình thường, quá trình đồng hóa và dị hóa luôn gắn kết chặt chẽ và cân bằng với nhau. Bảng tổng kết năng lượng mà chúng tôi nhắc đến, đó chính là sự cân bằng giữa hai quá trình này.

Quá trình đồng hóa là sự chuyển hóa các hợp chất hữu cơ từ thức ăn thành những hợp chất hữu cơ đặc biệt tham gia vào sự tạo hình, tăng trưởng và dự trữ của cơ thể. Quá trình dị hóa  bao gồm những phản ứng chuyển hóa các chất hữu cơ thành các sản phẩm trung gian như CO2, Ure, H2O,…tạo ra năng lượng dưới dạng nhiệt dùng cho các phản ứng của cơ thể như cơ cơ, bài tiết,…

Ở trẻ nhỏ, quá trình đồng hóa diễn ra mạnh mẽ hơn quá trình dị hóa, nhu cầu dinh dưỡng cao giúp cơ thể phát triển nhanh và toàn diện đồng thời cũng tăng cân nặng. Khi hấp thu quá nhiều, cơ thể trẻ sẽ không thể chuyển hóa hết và những chất dinh dưỡng dư thừa đó sẽ được tích trữ trong các mô, cơ dưới dạng mỡ và sự tăng cân nhanh chóng là biểu hiện rõ ràng nhất. Hơn nữa, quá trình dị hóa xảy ra ít hơn, tức là không có sự tiêu hao về năng lượng bằng cách chuyển hóa protein, đường, chất béo… càng khiến tình trạng tích trữ và tăng cân thêm trầm trọng hơn.

Sự chuyển hóa cơ bản gia tăng ở trẻ em gây ra bệnh béo phì

Điều này có nghĩa một em bé trở nên béo phì khi sự chuyển hoá cơ bản đã gia tăng vì đứa trẻ đã xây dựng cho mình khối lượng mỡ và nạc nhiều hơn những đứa trẻ cùng lứa tuổi khác: mỗi kg thể trọng của em bé được tạo nên bởi 75% mỡ, còn 25% là cơ bắp. Do em bé phải vạn động với khối lượng cơ thể lớn hơn các bạn khác nên em bé cũng tiêu hao nhiều năng lượng hơn. Kết quả là trong thời gian đầu, em bé ăn nhiều hơn so với mức năng lượng cơ thể cần và đã tạo thành mô mỡ trong cơ thể. Em bé đã béo lên rõ rệt (đó là giai đoạn động của sự béo phì). Trong thời gian sau (là giai đoạn tĩnh) bảng cân đối trở nên cân bằng nhưng em bé vẫn muốn ăn nhiều hơn các bạn, vì với số cân dư thừa đó em bé phải thích ứng với sự cung cấp năng lượng nhiều hơn.

Bạn hãy nhớ rằng, điều này cho thấy bạn không thể kìm hãm con bạn một cách độc đoán, dù em bé quá béo hay thừa cân khủng khiếp như thế nào, bằng cách chỉ cho đứa trẻ lượng đồ ăn ngang mức với một cô cậu bé bình thường vì bé phải tự điều chỉnh nhu cầu về lượng ở mức cao hơn nhiều. Tức là, việc ép đứa trẻ chỉ được một lượng nhỏ thức ăn hàng ngày là sự trừng phạt khủng khiếp đối với trẻ con và càng kích thích sự thèm ăn điên cuồng của bé. Bởi vì em bé không có đủ năng lượng để hoạt động bình thường.

Sự thật là, chính trong giai đoạn đầu (giai đoạn động), khi hình thành số cân dư thừa và sự béo phì, bạn phải quan tâm đến cháu nhiều hơn.

Khi sự cân bằng mong manh về sinh lý giữa cung ứng và tiêu dùng năng lượng, chắc chắn có sự tham gia của tính di truyền, nhưng cũng có sự tham gia của cơ chế điều chỉnh hormon, đặc biệt là những hormon chi phối việc sản sinh ra insulin.

Một công trình nghiên cứu nhi khoa đã đưa ra những thông tin về giai đoạn đầu của chứng béo phì, thời kỳ này còn ít được nghiên cứu kỹ lưỡng: trái với người lớn thường có sức đề kháng tốt hơn đối với hormon của tuyến tuỵ, trẻ con béo phì cực kỳ nhạy cảm với insulin, chất đóng vai trò then chốt trong việc điều chỉnh đường, protein và chất béo. Insulin kìm hãm sự tiêu giảm các mô mỡ. Người ta nhận thấy ở những đứa trẻ ngay trong giai đoạn động đang tăng cân, vẫn khác với người lớn là có sự nhạy cảm đặc biệt với insulin. Chất đó dù với lượng rất nhỏ cũng đủ gây nên sự phong tỏa bất bình thường chất béo (50%) trong các mô mỡ và do đó tạo thuận lợi trực tiếp cho việc tích mỡ các đứa trẻ béo phì.

Điều cần xem xét tiếp là sự nhạy cảm đặc biệt đó là nguyên nhân hay là hậu quả của trạng thái dư thể trọng. Những quan sát thực hiện trên một con chuột béo phì cho thấy khi tiết dịch insulin tăng cao sẽ kích thích sự nhạy cảm đặc biệt của các mô mỡ, đó là một hiện tượng phụ nhưng là hiện tượng chuyển tiếp, trở thành bền vững khi đã hình thành chứng béo phì. Công việc nghiên cứu đã mở đường cho việc lựa chọn phương pháp chữa trị và phòng ngừa mới dựa trên sự mẫn cảm đối với insulin ở giai đoạn đầu, giai đoạn động của chứng béo phì.

Thai nhi phát triển kém khiến quá trình chuyển hóa bị rối loạn

Việc nghiên cứu con cái của những bà mẹ đã chịu cảnh thiếu dinh dưỡng hồi cuối thế chiến thứ hai tại Amsterdam (do người Đức thực hiện vịêc phong toả thực phẩm) là một thí dụ khá rõ về những ảnh hưởng này. Trải qua nhiều thế hệ, những biến đổi rất nhanh gần đây về mức độ và bản chất của môi trường thực phẩm đã tác động lên tình trạng dư thể trọng.

Thật vậy, những đứa bé đã phải chịu đựng sự hạn chế dinh dưỡng trong dạ con của mẹ suốt ba tháng cùng của thời kỳ bào thai, khi sinh ra thường nhẹ cân hơn các bé khác. Đó là do chế độ ăn uống của mẹ đã tác động trực tiếp lên bào thai.

Những đứa bé chịu đựng sự hạn chế nói trên trong 6 tháng đầu của thời kỳ bào thai, khi sinh ra vẫn cân nặng giống như bé khác, nhưng đến thế hệ con cái chúng, sự không dung nạp đường glucoza và tính kháng insulin phát triển thường xuyên hơn các bé khác, từ đó có nguy cơ cao về chứng béo phì và bệnh tiểu đường.

Nhưng điều kỳ lạ nhất là việc thiếu dinh dưỡng đã tác động lên sự không dung nạp glucoza còn kéo dài đến tận thế hệ thứ hai, mà không có tác nhân kích thích nào. Những biến đổi đó thể hiện ở thế hệ thứ hai có thể là do những biến đổi xuất hiện ở bào thai, trong các thể bào sinh dục và truyền lại. Điều đó chứng tỏ sự thích nghi mau chóng của con người đối với môi trường thông qua biến đổi gen.

Loại thích nghi nhanh chóng đó cho phép tăng tuổi thọ của các cá nhân và của cả đàn con cháu nữa. Điều xảy ra chứng tỏ nếu bào thai bị thiếu dinh dưỡng trong những thời kỳ nhất định của quá trình phát triển, sẽ để lại dấu ấn chuyển hóa, một sự chương trình hóa ngắn hạn những tác động thuận lợi cho sự tồn tại, nhưng đặc tính quyết định của nó, xét về lâu dài trong suốt cuộc đời, khi đứa trẻ đã trưởng thành, lại dẫn tới những hậu quả bệnh lý như cao huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo đường kháng insulin.

Cả quá trình giảm dần dần thức ăn trong một bữa cơm và trạng thái của một người hoàn toàn no đủ là biểu hiện của sự kiềm chế tính thèm ăn liên quan đến một loạt phản ứng phức tạp. Những phản ứng đó (về sinh lý, chuyển hóa, hóa thần kinh, tâm lý) được khởi động bởi tác động của đồ ăn và chất leptin (hormon gây ra sự chán ngấy), phụ thuộc chính vào nhiều phản ứng gây ra bởi mắt nhìn, mũi ngửi và miệng ăn thức ăn. Và chính những phản ứng đó lại quyết định những đáp ứng sinh lý và chuyển hóa.

Hãy xét ví dụ về một cậu bé đang yên lặng ngồi ăn bánh ngọt. Ngay khi nó vừa ăn bánh xong, nghĩa là còn lâu mới kết thúc quá trình tiêu hóa, bộ óc đã có thể quyết định xem với chiếc bánh trông ngon mắt, mùi thơm phức và ăn rất mềm kia, liệu sự thèm ăn đã thỏa mãn chưa. Đó chính là sự chán về tâm thần giác quan: cậu bé đã có cái mà nó muốn. Nó bèn đứng dậy sẵn sàng chạy đi làm việc khác ngoài chuyện ăn uống.

Nhưng quá trình đứa em bé ăn chưa hẳn đã hoàn tất. Một khi các tố chất dinh dưỡng được hấp thụ qua ruột rồi lưu chuyển trong máu, chúng trở thành những thông điệp chuyển hóa được đưa tới não và được mã hóa như những tín hiệu hóa học thần kinh, sau khi não đã kết hợp những khái niệm về số lượng, chất lượng đồ ăn cũng như trạng thái chuyển hóa xảy ra sau khi ăn. Chính lúc này não sẽ truyền đi: Dừng lại, hết đói rồi! hay Thêm nữa! (đó là sự chán ngấy về chuyển hóa). Đứa trẻ sẽ đợi được tới tận bữa ăn chiều và một giờ sau đó cũng không đòi ăn thêm một chiếc kem hay một ít khoai rán nữa. Chính giai đoạn thứ hai này sẽ xác định một cách lý tưởng sự phân chia khoảng cách giữa các bữa ăn và nếu mọi sự đều ổn thoả thì chấm dứt được việc ăn vặt không đúng lúc.

Còn về sự điều tiết tính thèm ăn trong thời hạn lâu hơn, chính là do leptin, chất protein đặc sắc đó đã chuyển tín hiệu từ mô mỡ lên não thông báo về lượng dự trữ chất béo trong cơ thể. Tất cả những thông tin đó chuyển đến não đã tạo nên những tín hiệu về sự chán ngấy, do vậy sẽ tham gia vào việc kiềm chế tính thèm ăn.

Vậy phải quan tâm nhiều và đề cao cảnh giác ngay từ thời gian đầu về sự cân bằng giữa hai quá trình chuyển hóa cơ bản. Nghĩa là bạn cần can thiệp ngay khi sự tích mỡ tăng vọt hay khi biểu đồ trọng lượng vượt lên cao so với tầm cỡ của bé. Bạn phải dùng mọi cách trong khả năng của mình để điều chỉnh việc giữ gìn vệ sinh cho toàn thể gia đình, kể từ những vấn đề về thói quen ăn uống cho đến những hoạt động thể chất, cả thể thao nữa để hạn chế tối đa sự hình thành béo phì ở trẻ.

Trong kỳ tiếp theo, Wikicabinet sức khỏe trân trọng mời độc giả đón đọc chủ đề. Mối quan hệ giữa béo phì và mảnh dẻ.

Nếu có những thắc mắc hay muốn tìm hiểu về bất kỳ chủ đề nào, hãy liên hệ với Wikicabinet sức khỏe bằng cách bình luận ở phía dưới nhé.

Leave a Reply