Bệnh Tật

Mối quan hệ giữa béo phì và mảnh dẻ

Wikicabinet bệnh tật kính chào quý độc giả ở kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu các chủ đề về:

Mối liên hệ giữa bảng tổng kết năng lượng dương và bệnh béo phì

Kỳ này Wikicabinet bệnh tật xin giới thiệu đến độc giả một chủ đề thú vị về Mối quan hệ giữa béo phì và mảnh dẻ. Mời quý độc giả đón theo dõi chủ đề này cùng Wikicabinet bệnh tật nhé.

Có những người gần như chỉ hít không khí thôi cũng cảm thấy tăng cân, nhưng đôi khi vẫn có ai đó than vãn rằng họ ăn rất nhiều và đầy đủ dinh dưỡng nhưng chẳng hấp thu được chút nào. Sự béo lên không kiểm soát hay gầy bền vững ở một số người luôn là câu hỏi khó trả lời. Có lẽ, chính trong giai đoạn thơ ấu, các bậc cha mẹ không có biểu đồ theo dõi liên tục sự phát triển cơ thể của trẻ một cách khoa học.

Những đứa trẻ mãi gầy còm

Các bậc cha mẹ đừng nên nhầm lẫn giữa một đứa trẻ có thân hình mảnh dẻ, thậm chí là gầy guộc nhưng lại rất ham ăn mà chẳng tăng được tý cân nặng nào với một đứa trẻ béo.

Cũng vậy, cần phân biệt rõ giữa đứa trẻ có nhịp độ tăng trưởng đều đặn có cân nặng thấp hơn bình thường một chút với đứa trẻ đã phá bỏ nhịp điệu và tốc độ tăng trưởng. Trong trường hợp này, sự gầy đi, nhất là khi điều đó xảy ra đột ngột và kéo dài, khiến ta phải nghĩ tới sự không dung nạp thực phẩm (chẳng hạn với gluten trong ngũ cốc, lúc đứa bé 6 tháng tuổi).

Nếu như độ trệch của biểu đồ ở mức cao hơn, thì đó là dấu hiệu về những bệnh lý nặng hơn, hiếm hơn như chứng chán ăn… Cuối cùng, khá nhiều người gầy sút cân và người gầy gò sở dĩ nhẹ cân là bởi mắc một chứng bệnh nhiễm trùng (ví dụ nhiễm trung niệu đạo mãn tính) hay một dị tật (về tiêu hóa, về thận…).

Như vậy, nếu muốn nâng cao thể trọng, phải chẩn đoán bệnh và có cách ăn uống. Còn những đứa bé được sinh ra sau thời kỳ chậm phát triển trong tử cung (CPTTTC) là đứa bé kém phát triển. Cần phân biệt những bé chậm phát triển cả ba kích thước (vòng sọ, chiều cao, cân nặng), phải được chăm sóc cẩn thận, đôi khi kéo dài trong nhiều năm, với những bé khác chỉ là quá bé nhỏ thôi. Nói chung, các bé này chỉ sau vài tháng là bắt kịp chuẩn mực và sau 2 năm thì 89% các cháu này đã đạt chuẩn.

Ngược lại, 20% số cháu bé đã từng bị CPTTTC vẫn tiếp tục là những trẻ quá nhỏ và quá gầy. Dĩ nhiên là phải dành cho các bé này sự chữa trị bằng hormon tăng trưởng và phải sự theo dõi của các chuyên gia khoa nhi – nội tiết trong thời gian tối đa 2-3 năm cho đến khi các bé được 3 tuổi.

Còn đối với những đứa trẻ thực sự gầy yếu, phải chăm sóc cẩn thận, nếu đứa trẻ có ủ bệnh thì phải lo chữa trị và cũng phải theo đúng những điều chỉ dẫn giống như hoặc gần giống như việc chăm sóc trẻ quá mập: điều chủ yếu là không nên ép buộc cháu ăn uống, bởi vì có nguy cơ sẽ làm cho trẻ gầy yếu có bước nhảy vọt sớm về tích mỡ và sinh ra béo phì trong tương lai. Nên cho đứa trẻ ăn mỗi ngày 4 bữa có đủ chất, tránh ăn vặt khiến bữa ăn chính mất ngon và sinh ra số calo vô ích.

Báo động về béo phì

Khi quá trình phát triển của trẻ đã hoàn tất, để xác định mức độ béo mập của đứa trẻ, bạn có thể dùng ngay những định mức áp dụng cho người lớn tuổi. Nếu chỉ số khối lượng cơ thể (KCT) từ 25 đến 29.9 thì đó là dư thể trọng bình thường; với KCT từ 30 đến 34,5 là béo mập vừa phải, KCT từ 35 đến 39,9 là béo mập nặng và với KCT vượt quá 40 là béo mập quá mức và bệnh hoạn.

Đối với trẻ em, sự dư thừa thể trọng liên quan đến sự dư thừa của khối mỡ, được xác định bằng sự thừa cân so với chiều cao. Đứa trẻ coi là béo mập khi thể trọng vượt quá 120% cân nặng tương ứng với chiều cao của nó, vượt quá hai độ lệch tiêu chuẩn về cân nặng so với chiều cao.

Chỉ số KCT không hề đả động đến trọng lượng, và dù sao đi nữa cũng không cho bạn rõ tỷ lệ giữa khối lượng mỡ (ở sâu dưới da, nghĩa là bao quanh nội tạng) với khối lượng nạc, là điều cần biết thật chính xác mới đánh giá được mức đánh giá được mức độ nghiêm trọng và nguy cơ béo phì của con bạn.

Thật vậy, trẻ con và người lớn đều có điểm giống nhau: khối lượng mỡ càng lớn thì chứng béo phì càng nghiêm trọng.

Do vậy, để lượng định được điều đó, bác sĩ phải vận dụng đến các biện pháp khác, nhưng chỉ trong điều kiện họ đã dự đoán trước vấn đề, phân tích những đồ thị của trẻ và đã hỏi han để nắm vững tiền sử gia đình bạn: hồi mới 8 tuổi, bạn có phải là người hơi to và thấp không? Và mẹ bạn thế nào? Chồng bạn có luôn phải lo lắng về vấn đề nặng không? Anh em có ai bị bệnh tiểu đường không?… Chỉ sau khi đã kiểm tra những vấn đề có tính thủ tục đó, lắng nghe những băn khoăn lo lắng của bạn, giải đáp các câu hỏi, giải thích về các đồ thị khác nhau, bác sĩ mới tính đến việc đánh giá khối lượng mỡ của con bạn.

Đo các nếp da bằng compa

Việc đo này phải có thiết bị chuyên dùng và nhờ vào sự từng trải của một thầy thuốc có kinh nghiệm.

Dụng cụ đo là một compan đo độ dầy có khắc độ theo 4 mức nếp gấp: nếp gấp ở cánh tay (cơ 2 đầu, 3 đầu) nếp gấp ở lưng (vùng dưới vai), nếp gấp ở sường, phía trên khung chậu. Kết quả đo giúp cho bác sĩ hình dung được tầm quan trọng của khối mỡ nằm dưới da. Đáng tiếc là lợi ích thu được lại phụ thuốc vào hiểu biết và kinh nghiệm của bác sĩ, thường khác nhau. Hơn nữa, điều đó không cho biết rõ về tỉ lệ của khối mỡ nằm sâu dưới da, là số liệu có vai trò quyết định trong các tai biến về tim mạch.

Đo vòng eo tính ra centimet

Cần vận dụng các phép đo khác nữa như đo vòng eo để có chỉ số chắc chắn về khối mỡ nằm sâu dưới da.

Đo sự chịu đựng của cơ thể đối với dòng điện

Để có cơ sở hoàn thiện việc đánh giá chứng béo phì, bác sĩ có thể đo điện trở của cơ thể khi cho một dòng điện xoay chiều cường độ vài trăm micrô ampe, hiệu thế vài von chạy qua là đại lượng tỷ lệ với khối lượng nạc trong cơ thể, vì khối mỡ không dẫn điện. Người ta gọi phép đo đó là đo trở kháng. Nhờ đó bác sĩ có được khái niệm chính xác về cấu tạo cơ thể của trẻ và đánh giá đúng sự chuyển hóa cơ bản của cháu. Và từ đó, bác sĩ sẽ điều chỉnh chiến lược điều trị, định ra chế độ cho thật sát hợp.

Cũng còn có những phương pháp khác mới hơn, tinh vi hơn và khá tốn kém [nhờ cộng hưởng từ hạt nhân, sự hấp thụ lưỡng quang điện tử (biphotonique)] mà hiệu quả còn đang được xem xét.

Túm lại, trước khi làm những thủ tục về chẩn bệnh thường do các bệnh viện tiến hành, điều cần thiết là phải quan tâm theo dõi biểu đồ trong y bạ của trẻ, trong suốt thời kỳ phát triển của chúng, chứ không phải là chỉ khi bé còn ở nhà trẻ. Xin nhắc lại một lần nữa: 80% các bé sau này bị béo phì vẫn có thể trọng bình thường tính đến năm 2 tuổi, 50% tính đến 4 tuổi và 25% tính đến năm 6 tuổi.

Trong kỳ tiếp theo, Wikicabinet bệnh tật trân trọng mời độc giả đón đọc chủ đề Xây dựng biểu đồ về sự béo phì của trẻ em.

Nếu có những thắc mắc hay muốn tìm hiểu về bất kỳ chủ đề nào, hãy liên hệ với Wikicabinet bệnh tật bằng cách bình luận ở phía dưới nhé.

Leave a Reply