Bệnh Tật

Nốt ruồi đen hay khối u ác tính, những rủi ro nào đang chờ đón bạn?

Wikicabinet kính chào quý độc giả ở kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu các chủ đề về:

Loét miệng là thiếu vitamin hay còn nguyên nhân bí ẩn nào khác?

Kỳ này wikicabinet xin giới thiệu đến độc giả một chủ đề thú vị về Nốt ruồi đen hay khối u ác tính, những rủi ro nào đang chờ đón bạn? Mời quý độc giả đón theo dõi chủ đề này cùng wikicabinet nhé.

Khối u ác tính là gì?

Khối u ác tính là một loại khối u ác tính cao có nguồn gốc từ melanocytes và có thể xảy ra ở các bộ phận hoặc mô khác nhau như da, tứ chi và màng nhầy (đường tiêu hóa, đường hô hấp, đường tiết niệu, v.v.). Số bệnh nhân mới mắc u ác tính ở Việt Nam là khoảng 2000 mỗi năm và tỷ lệ mắc bệnh đang tăng lên hàng năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhận thức của các công dân về khối u ác tính đã tăng lên rất nhiều, điều này đã làm tăng tỷ lệ phát hiện sớm của khối u ác tính.

Bức xạ tia cực tím là một yếu tố chủ đạo gây ra khối u ác tính. Những người thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và có thói quen phơi nắng có nguy cơ mắc khối u ác tính cao. Đồng thời, những người có làn da trắng hoặc những người dễ bị cháy nắng cũng dễ bị u ác tính hơn. Bác sĩ tại bệnh viên K cho biết: “Nếu có nhiều hơn hai bệnh nhân u ác tính trong gia đình, nguy cơ mắc u ác tính ở các thành viên khác trong gia đình có thuộc tầng lớp trung và cao niên, nhưng gần đây có xu hướng tập trung sang giới trẻ, điều này cho thấy sự cảnh giác ngày càng tăng của những người trẻ tuổi chống lại bệnh tật. ”

Khi xuất hiện nốt ruồi đen ở lòng bàn tay và lòng bàn chân bất thường, bạn nên cẩn thận với những rủi ro khi loại bỏ nốt ruồi bằng laser. Tốt nhất hãy đến bệnh viện kiểm tra nốt ruồi đó có nên loại bỏ hay không và loại bỏ như thế nào để đảm bảo an toàn?

“Mặc dù một số khối u ác tính có xuất phát điểm từ nốt ruồi, nhưng không phải tất cả các nốt ruồi sẽ biến thành khối u ác tính, bạn không cần phải lo lắng. Tuy nhiên, không vì điều này mà lơi lỏng cảnh giác và tự kiểm tra thường xuyên.

Khối u ác tính thường xuất hiện ở những bộ phận sau: các chi (đầu cực), dưới móng tay, lòng bàn tay và lòng bàn chân. Nếu nốt ruồi mới được phát triển ở những bộ phận này, nên nhờ bác sĩ chuyên khoa giúp chẩn đoán phân biệt. Chẩn đoán sớm và điều trị sớm sẽ mang lại hiệu quả tốt. Ngoài những bộ phận này, còn có một số bộ phận nhạy cảm hơn, chẳng hạn như khoang mũi, khoang miệng, âm đạo và u ác tính niêm mạc đại trực tràng càng khó nhận biết hơn.

Hiện nay, nền y học nước nhà công bố sáu tiêu chí phán đoán ABCDEF, bao gồm cả nốt ruồi có đối xứng hai bên hay không, liệu ranh giới của nó có tương đối rõ ràng hay không, màu sắc và kích thước của nó trông như thế nào, ngoài ra, hay sự thay đổi về kích thước cũng như màu sắc với lần xuất hiện đầu tiên đều được ghi chép lại. Nốt ruồi càng xấu xí, bạn càng phải cảnh giác hơn về các vấn đề sức khỏe. Hãy đến bệnh viện xác định xem đó là một nốt ruồi bình thường hay một khối u nguy hiểm. Vì vậy, ngoài việc nâng cao cảnh giác, tự kiểm tra thường xuyên, chẩn đoán và điều trị kịp thời rất quan trọng. ”

Nguyên tắc “ABCDEF” để phân biệt khối u ác tính

  • Cạnh A là một bất đối xứng (Không đối xứng): Không giống như các nốt ruồi thông thường, khối u ác tính có hình dạng không đều
  • Cạnh B (Đường viền): Cạnh thô, đôi khi có những khoảng trống
  • Màu C (Màu sắc): phân bố màu không đồng đều, thường có nhiều hơn hai màu được trộn lẫn
  • Đường kính D (Đường kính): kích thước tương đối lớn, đường kính lớn hơn 6 mm
  • Mở rộng: Kích thước của nốt ruồi thông thường tương đối cố định và khối u ác tính sẽ dần dần lớn lên theo thời gian
  • F hình dáng ngộ nghĩnh: Thay vì trông giống như những nốt ruồi thông thường khác, mụn cóc, thì khối u ác tính có những hình thù khá là kì cục.

Nhiều người thích sử dụng tia laser để loại bỏ nốt ruồi, nhưng thực tế, tia laser không hề an toàn. Phương pháp an toàn hơn so với triệt nốt ruồi bằng tia laser là loại bỏ nó bằng phẫu thuật, sau đó thực hiện kiểm tra bệnh lý tương ứng. Bởi vì trong trường hợp nốt ruồi này trở nên ác tính, hoạt động của tia laser sẽ kích thích các tế bào, có thể làm tăng tốc độ suy giảm tế bào chủ, kèm theo là những hậu quả không thể tưởng tượng được.

Nếu một người cảm thấy nốt ruồi đen trên cơ thể mình có điều gì có không đúng, họ có thể đến khoa da liễu hoặc khoa ung thư của bệnh viện địa phương để tư vấn, hoặc thông qua tư vấn trực tuyến. Khi khó phân biệt được tình trạng nên đến phòng khám chuyên khoa u ác tính của Khoa Ung bướu của Bệnh viện Bạch Mai hoặc Bệnh viện K.

Điều trị khối u ác

Vẫn còn nhiều vấn đề trong điều trị u ác tính tiêu chuẩn. Ví dụ, để cải thiện nhận thức chẩn đoán và giảm sự chậm trễ chẩn đoán. Phương pháp sinh thiết cũng rất quan trọng để chẩn đoán. Cần cắt bỏ hoàn toàn các tổn thương đáng ngờ. Đối với các vị trí đặc biệt hoặc tổn thương có diện tích lớn hơn, nên thực hiện nhiều sinh thiết để tránh chẩn đoán bị bỏ sót. Đồng thời, cố gắng rút ngắn thời gian sinh thiết và phóng to khoảng cách giữa cắt bỏ để giảm khả năng tái phát và di căn.

Ngoài ra, chẩn đoán bệnh lý cần cung cấp đầy đủ thông tin điều trị, chẳng hạn như độ sâu thâm nhiễm khối u ác tính, để xác định xem có phải sinh thiết các hạch bạch huyết được yêu cầu hay không. Có những thông tin này liên quan chặt chẽ với các phương pháp điều trị tiếp theo và có thể giúp đưa ra kế hoạch điều trị tiếp theo.

Hiểu rõ đột biến gen bệnh và lập kế hoạch điều trị

Ngoài ra, một kế hoạch điều trị được nhắm mục tiêu nhiều hơn cần phải hiểu các đột biến gen của bệnh, chẳng hạn như sự hiện diện hoặc vắng mặt của các đột biến trong gen BRAF, NRAS và CKIT.

Để đưa ra một ví dụ, một phương pháp điều trị tương đối chuẩn cho khối u ác tính là đột biến BRAF. Mặc dù dữ liệu từ các nghiên cứu khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau, nhưng về tổng thể, so với liệu pháp đơn mục tiêu và liệu pháp hai mục tiêu, tỷ lệ kiểm soát bệnh và tỷ lệ đáp ứng khách quan cao hơn.

So với liệu pháp miễn dịch, liệu pháp nhắm mục tiêu khởi phát mang lại hiệu quả nhanh chóng. Thời gian khởi phát của các mục tiêu kép thường ít hơn 8 tuần, nghĩa là trong vòng hai tháng kể từ khi khởi phát, và hiệu quả đã được quan sát trước đó. Điều này có ý nghĩa lớn để tăng cường sự tự tin của bệnh nhân trong điều trị. Khoảng 20% ​​bệnh nhân được điều trị bằng hai mục tiêu có thể đạt được kết quả tích cực và thuyên giảm hoàn toàn, điều đó có nghĩa là không có khối u nào có thể được phát hiện sau khi điều trị. Về mặt an toàn, các phản ứng bất lợi có thể gây sốt và có thể làm tăng nhiệt độ cơ thể. Tuy nhiên, một số phản ứng này có thể giảm dần sau một thời gian. Nói chung, nó tương đối an toàn. Chúng tôi tin rằng nhiều bệnh nhân có thể có lợi hơn!

Trong kỳ tiếp theo, Wikicabinet trân trọng mời độc giả đón đọc chủ đề Xử lý hiệu quả hiện tượng hạ huyết áp tư thế.

Nếu có những thắc mắc hay muốn tìm hiểu về bất kỳ chủ đề nào, hãy liên hệ với Wikicabinet bằng cách bình luận ở phía dưới nhé.

Leave a Reply