Bệnh Tật

Tất tần tật kiến thức về đột quỵ (Kỳ 2)

Wikicabinet – Kênh thông tin tri thức nhân loại kính chào quý độc giả ở kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu các chủ đề về:

Tất tần tật kiến thức về đột quỵ (Kỳ 1)

Kỳ này wikicabinet xin giới thiệu đến độc giả một chủ đề thú vị về Tất tần tật kiến thức về đột quỵ (Kỳ 2). Mời quý độc giả đón theo dõi chủ đề này cùng wikicabinet nhé.

Trong kỳ này, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây ra đột quỵ

Mỗi loại đột quỵ có một loạt các nguyên nhân tiềm ẩn khác nhau. Tuy nhiên, nói chung, đột quỵ có nhiều khả năng ảnh hưởng đến một người hơn nếu họ:

  • Thừa cân hoặc béo phì
  • 55 tuổi trở lên
  • Có tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị đột quỵ
  • Bị huyết áp cao
  • Bị bệnh tiểu đường
  • Có cholesterol cao
  • Bị bệnh tim, bệnh động mạch cảnh hoặc bệnh mạch máu khác
  • Ít vận động
  • Uống rượu quá mức
  • Sử dụng ma túy, cần sa

Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nam giới có nguy cơ tử vong do đột quỵ cao hơn nữ giới. Tuy nhiên, một đánh giá năm 2016 về các nghiên cứu cho thấy rằng những khác biệt này không tính đến các điều chỉnh về chủng tộc, tuổi tác, mức độ nghiêm trọng của đột quỵ và các yếu tố nguy cơ khác.

Các chuyên gia giải thích rằng nguy cơ tử vong do đột quỵ thường tăng lên do tuổi tác và nhân khẩu học, hơn là do sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.

Theo một phân tích năm 2016 , người Mỹ gốc Phi có nguy cơ bị đột quỵ lần đầu cao hơn đáng kể. Họ cũng có khả năng bị đột quỵ khác trong vòng 2 năm cao hơn khoảng 60%.

Các nguyên nhân cụ thể của từng loại đột quỵ.

Đột quỵ do thiếu máu cục bộ

Loại đột quỵ này xảy ra do tắc nghẽn hoặc thu hẹp trong các động mạch cung cấp máu cho não. Điều này gây ra thiếu máu cục bộ, hoặc giảm lưu lượng máu nghiêm trọng, làm tổn thương các tế bào não.

Cục máu đông thường gây ra đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Các cục máu đông có thể hình thành trong động mạch não và các mạch máu khác trong cơ thể. Dòng máu mang chúng vào các động mạch hẹp hơn trong não.

Các mảng bám chất béo lắng đọng trong động mạch cũng có thể gây ra cục máu đông dẫn đến thiếu máu cục bộ.

Đột quỵ xuất huyết

Các động mạch trong não bị rò rỉ hoặc vỡ có thể dẫn đến đột quỵ xuất huyết.

Máu bị rò rỉ gây áp lực lên các tế bào não và làm tổn thương chúng. Nó cũng làm giảm nguồn cung cấp máu có thể đến mô não sau khi xuất huyết.

Các mạch máu có thể vỡ ra và tràn máu vào não hoặc gần bề mặt của não. Điều này cũng có thể đưa máu vào không gian giữa não và hộp sọ.

Có cao huyết áp , trải qua chấn thương về thể chất, dùng thuốc làm loãng máu, và có một chứng phình động mạch chủ có thể làm cho một sự rò rỉ mạch máu hoặc vỡ.

Xuất huyết nội sọ là loại đột quỵ xuất huyết phổ biến nhất. Điều này xảy ra khi mô não tràn ngập máu sau khi động mạch bị vỡ.

Xuất huyết dưới nhện là một dạng đột quỵ xuất huyết khác. Những điều này ít phổ biến hơn. Trong xuất huyết dưới nhện, chảy máu xảy ra ở vùng giữa não và các mô mỏng bao phủ nó.

Cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA)

TIA chỉ làm gián đoạn dòng máu lên não trong thời gian ngắn. Chúng tương tự như đột quỵ do thiếu máu cục bộ, ở chỗ chúng xảy ra do cục máu đông.

Mọi người nên coi chúng như trường hợp cấp cứu y tế, ngay cả khi các triệu chứng chỉ là tạm thời. Chúng đóng vai trò như những dấu hiệu cảnh báo về những cơn đột quỵ trong tương lai và chỉ ra nguồn động mạch hoặc cục máu đông bị tắc nghẽn một phần trong tim.

Theo thống kê, hơn một phần ba số người trải qua TIA bị đột quỵ nghiêm trọng trong vòng một năm nếu họ không được điều trị. Khoảng 10-15% số người sẽ bị đột quỵ nặng trong vòng 3 tháng sau khi trải qua TIA.

Các triệu chứng đột quỵ

Các triệu chứng của đột quỵ thường xuất hiện mà không báo trước. Một số triệu chứng chính bao gồm:

  • Nhầm lẫn, bao gồm khó nói và hiểu giọng nói
  • Đau đầu, có thể với ý thức thay đổi hoặc nôn
  • Tê hoặc không có khả năng cử động các bộ phận của mặt, cánh tay hoặc chân, đặc biệt là ở một bên của cơ thể
  • Vấn đề thị lực ở một hoặc cả hai mắt
  • Đi lại khó khăn, bao gồm chóng mặt và thiếu phối hợp

Đột quỵ có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe lâu dài. Tùy thuộc vào tốc độ chẩn đoán và điều trị, một người có thể bị tàn tật tạm thời hoặc vĩnh viễn sau đột quỵ, thậm chí là tử vong.

Một số người cũng có thể gặp phải

  • Vấn đề kiểm soát bàng quang hoặc ruột
  • Căng thẳng hoặc lo lắng
  • Tê liệt hoặc yếu ở một hoặc cả hai bên của cơ thể
  • Khó kiểm soát hoặc thể hiện cảm xúc của họ
  • Các triệu chứng khác nhau và có thể có mức độ nghiêm trọng.

“FAST” là một hướng dẫn tốt và hiệu quả để ghi nhớ các triệu chứng của đột quỵ. Điều này có thể giúp một người tìm cách điều trị kịp thời. FAST là viết tắt của:

  • F (Face) Mặt xệ xuống hoặc méo miệng: Nếu người đó cố gắng cười, một bên mặt của họ có bị xệ xuống không?
  • A (Arm) Yếu liệt cánh tay, chân: Nếu người đó cố gắng nâng cả hai cánh tay của họ lên cao, một cánh tay có bị trôi xuống phía dưới không?
  • S (Speech) Ngôn ngữ bất thường: Nếu người đó cố gắng lặp lại một cụm từ đơn giản, thì giọng nói của họ có nói ngọng hoặc bất thường không?
  • T (Time) Thời gian để hành động: Nếu có bất kỳ triệu chứng nào trong số này, hãy liên hệ với các dịch vụ y tế khẩn cấp ngay lập tức.

Kết quả phụ thuộc vào mức độ nhanh chóng của một người nhận được điều trị. Chăm sóc kịp thời cũng có nghĩa là họ sẽ ít bị tổn thương não vĩnh viễn hoặc tử vong.

Chẩn đoán

Đột quỵ bắt đầu nhanh chóng. Để có kết quả tốt nhất, một người nên được điều trị tại bệnh viện trong vòng 3 giờ kể từ khi các triệu chứng đầu tiên xuất hiện.

Có một số xét nghiệm chẩn đoán khác nhau mà bác sĩ có thể sử dụng để xác định loại đột quỵ. Bao gồm các:

Khám sức khỏe: Bác sĩ sẽ hỏi về các triệu chứng và bệnh sử của người đó. Họ sẽ kiểm tra sức mạnh cơ bắp, phản xạ, cảm giác, thị lực và sự phối hợp. Họ cũng có thể kiểm tra huyết áp, nghe động mạch cảnh ở cổ và kiểm tra các mạch máu ở phía sau mắt.

Xét nghiệm máu: Bác sĩ có thể tiến hành xét nghiệm máu để xác định xem có nguy cơ chảy máu hoặc đông máu cao hay không, đo nồng độ các chất cụ thể trong máu, bao gồm các yếu tố đông máu và kiểm tra xem có bị nhiễm trùng hay không.

Chụp CT: Một loạt tia X có thể cho thấy xuất huyết, đột quỵ, khối u và các tình trạng khác trong não.

Chụp MRI: Những phương pháp này sử dụng sóng vô tuyến và nam châm để tạo ra hình ảnh của não mà bác sĩ có thể sử dụng để phát hiện mô não bị tổn thương.

Siêu âm động mạch cảnh: Bác sĩ có thể tiến hành siêu âm để kiểm tra lưu lượng máu trong các động mạch cảnh và xem có hiện tượng thu hẹp hoặc mảng bám hay không.

Chụp mạch máu não: Bác sĩ có thể tiêm thuốc nhuộm vào mạch máu não để làm cho chúng có thể nhìn thấy được dưới tia X hoặc MRI. Điều này cung cấp một cái nhìn chi tiết về các mạch máu trong não và cổ.

Siêu âm tim: Điều này tạo ra hình ảnh chi tiết của tim, bác sĩ có thể sử dụng để kiểm tra bất kỳ nguồn nào các cục máu đông có thể đã di chuyển đến não.

Chỉ có thể xác nhận loại đột quỵ bằng cách sử dụng quét não trong môi trường bệnh viện.

Trong kỳ tiếp theo, Wikicabinet trân trọng mời độc giả đón đọc chủ đề Tất tần tật kiến thức về đột quỵ (Kỳ 3).

Nếu có những thắc mắc hay muốn tìm hiểu về bất kỳ chủ đề nào, hãy liên hệ với Wikicabinet bằng cách bình luận ở phía dưới nhé.

Leave a Reply