Cẩm Nang

Tất tần tật về bệnh suy tim và cách phòng ngừa

Tất tần tật về bệnh suy tim và cách phòng ngừa

Wikicabinet – Kênh thông tin tri thức nhân loại kính chào quý độc giả ở kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu các chủ đề về:

Kiến thức khoa học thú vị về đôi tai

Kỳ này wikicabinet sống khỏe xin giới thiệu đến độc giả một chủ đề Tất tần tật về bệnh suy tim và cách phòng ngừa. Mời quý độc giả đón theo dõi chủ đề này cùng wikicabinet sống khỏe nhé!

Suy tim là thuật ngữ được dùng để chỉ một nhóm hội chứng lâm sàng trong đó chức năng tâm thu và / hoặc tâm trương của tim bị suy giảm, làm giảm sản lượng máu của tim và không thể đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của con người.

Suy tim tăng dần theo tuổi, tỷ lệ suy tim hiện nay ở nước ta là khoảng 0.6%, và cả nước có khoảng gần 2 triệu bệnh nhân, trong đó nhiều nhất là 65 tuổi. Người cao tuổi trên 75 tuổi có tỷ lệ mắc bệnh là 2,1%. Khoảng 460.000 ca bệnh suy tim mới xảy ra ở nước ta mỗi năm, đã trở thành một căn bệnh nguy hiểm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

Tất tần tật về bệnh suy tim và cách phòng ngừa

Tác hại của suy tim là gì?

Tim là động cơ của cơ thể con người, sau khi bị suy tim, chức năng bơm máu của tim giảm, lượng oxy và chất dinh dưỡng cung cấp cho toàn cơ thể bị giảm dẫn đến các mô và cơ quan toàn cơ thể không đủ chức năng. biểu hiện như sau:

Tim mệt mỏi, khó thở, giảm sức chịu đựng khi hoạt động: Sau khi cơ thể con người đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng hơn như oxy sẽ làm tăng gánh nặng cho tim, do đó sau khi suy tim xuất hiện các triệu chứng như tim mệt và khó thở. sẽ trầm trọng hơn, và thể lực của bệnh nhân rõ ràng là không đủ.

Suy tim là loại bệnh gì và có thể phòng ngừa được không?

Chóng mặt, trí nhớ giảm sút, suy nghĩ và phản ứng chậm: là do lượng máu cung cấp cho não không đủ và chức năng não bị giảm do suy tim.

Chướng bụng, khó chịu vùng bụng trên, ăn uống thiếu suy nghĩ: Suy tim gây thiếu máu cục bộ và thiếu oxy ở cơ quan tiêu hóa và làm tiêu hóa yếu đi, đồng thời suy tim gây ứ máu ở gan và đường tiêu hóa, gan to, chức năng gan bất thường. , và làm trầm trọng thêm các triệu chứng về đường tiêu hóa.

Giảm lượng nước tiểu và phù nề: Suy tim gây rối loạn về máu ở tĩnh mạch, cung lượng tim không đủ, máu cung cấp cho thận không đủ, thận bị sung huyết sẽ làm giảm khả năng đi tiểu của thận, giữ nước và natri trong cơ thể, chức năng gan giảm và giảm tổng hợp protein, gây ra và làm nặng thêm tình trạng phù nề.

Khi bị suy tim, các triệu chứng trên có thể xuất hiện nối tiếp nhau. Khi cử động, tim mỏi và căng, chất lượng cuộc sống sẽ giảm sút rất nhiều như ăn không được, nằm không đều, sưng phù và thiểu niệu, thị lực chậm chạp, tư duy chậm chạp, chất lượng cuộc sống giảm sút rất nhiều.

Nguy cơ quan trọng nhất của suy tim là rút ngắn tuổi thọ. Theo các báo cáo nghiên cứu, tỷ lệ sống sót sau 5 năm đối với bệnh suy tim là khoảng 50%, tương đương với các khối u ác tính, khi diễn biến của bệnh càng tăng thì chức năng tim càng suy giảm, tỷ lệ sống càng giảm. Đột tử (do tim) có thể xảy ra ở bệnh nhân suy tim nặng bất cứ lúc nào.

Làm thế nào để ngăn ngừa sự xuất hiện của suy tim?

Suy tim là mắt xích cuối cùng trong chuỗi bệnh tim mạch. Để hiểu rõ hơn về sự xuất hiện và phát triển của suy tim, “Hướng dẫn” mới chia diễn biến của suy tim thành 4 giai đoạn là A, B, C và D.

Giai đoạn A chỉ đề cập đến các yếu tố nguy cơ tim mạch, chẳng hạn như huyết áp cao, tăng lipid máu, tiểu đường, béo phì, hút thuốc lá, lạm dụng và lười vận động, … Sự phát triển thêm của các yếu tố này sẽ gây tổn thương tim và bước vào giai đoạn B. Tuy nhiên, ở giai đoạn B chỉ có phì đại tâm thất, tổn thương van tim hoặc thiếu máu cơ tim không triệu chứng, bệnh nhân không có bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào và không khiến người bệnh chú ý, có thể chẩn đoán bằng khám lâm sàng và dụng cụ. kiểm tra.

Giai đoạn C là giai đoạn suy tim lâm sàng. Dưới tác động liên tục của các yếu tố nguy cơ, tổn thương tim càng thêm trầm trọng, với các triệu chứng lâm sàng như tim mệt, khó thở, phù chi dưới. Hầu hết bệnh nhân chỉ đến gặp bác sĩ vào thời điểm này, nhưng họ đã bỏ qua giai đoạn phòng bệnh tốt nhất.

Bệnh nhân ở giai đoạn C sẽ tạm thời thuyên giảm sau khi điều trị tích cực, nhưng ngay sau đó tình trạng bệnh sẽ phục hồi. , có nghĩa là ngay cả khi tạm thời thuyên giảm, chức năng tim cũng suy giảm theo năm tháng, ngày càng trở nên tồi tệ hơn, và cuối cùng bước vào giai đoạn D.

Giai đoạn D là giai đoạn cuối, giai đoạn cuối của bệnh suy tim hay còn gọi là giai đoạn chịu lửa. Trong giai đoạn suy tim này, các phương pháp điều trị khác nhau đều cho kết quả không tốt, chẳng khác nào “con thuyền ra khơi”, dù khó khăn đến đâu cũng phải quay đầu trở lại, tỷ lệ sống sót chỉ dưới 20%.

Từ trên có thể thấy rằng sự xuất hiện của suy tim là từ từ. Các yếu tố nguy cơ khác nhau là mối liên hệ ban đầu gây ra suy tim Vì vậy, can thiệp tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch là phần quan trọng nhất để phòng ngừa suy tim.

Nghiên cứu cho thấy ở giai đoạn A và giai đoạn B, tỷ lệ sống sót của người bệnh gần như tương đương với người bình thường (khoảng 96% người bình thường), miễn là kiểm soát được các yếu tố nguy cơ và tim không tiếp tục bị tổn thương. tim, tim lâm sàng có thể tránh được Sự xuất hiện của suy (giai đoạn C), giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Điều này cho thấy suy tim có thể phòng ngừa và chữa khỏi được, điều cốt yếu là bạn có nhận thức về sức khỏe hay không. Can thiệp các yếu tố nguy cơ tim mạch khác nhau là trọng tâm của việc ngăn ngừa sự xuất hiện và phát triển của bệnh suy tim Hãy tránh xa lối sống không lành mạnh và quản lý các yếu tố nguy cơ để bệnh suy tim không làm phiền bạn.

Trong kỳ tiếp theo, Wikicabinet sống khỏe trân trọng mời độc giả đón đọc chủ đề Tại sao bạn thức giấc lúc hai hoặc ba giờ sáng?

Nếu có những thắc mắc hay muốn tìm hiểu về bất kỳ chủ đề nào, hãy liên hệ với Wikicabinet sống khỏe bằng cách bình luận ở phía dưới nhé.

Leave a Reply